Tại Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
do KMC Consulting Company Limited
“Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
- Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
- Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
- Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.”
Theo đó, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Thông thường lương tháng 6 sẽ thường được thực nhận vào tháng 7, mà từ ngày 01/7/2026 Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Do thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm chi trả thu nhập nên nếu tiền lương tháng 6 được doanh nghiệp thanh toán vào sau ngày 01/7/2026 thì việc khấu trừ thuế TNCN sẽ được thực hiện theo quy định đang có hiệu lực tại thời điểm chi trả. Tuy nhiên, việc áp dụng khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần hay khấu trừ 10% còn phụ thuộc vào tính chất của khoản thu nhập được chi trả và tình trạng hợp đồng lao động tại thời điểm thanh toán.
Dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về Khấu trừ thuế như sau:
“Khấu trừ thuế
...
- Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...”
Có thể thấy, từ ngày 01/7/2026, người lao động có thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.
Trường hợp, cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Đồng thời, tham khảo Công văn 146/HUE-QLDN năm 2026 Thuế thành phố Huế hướng dẫn về khấu trừ thuế TNCN khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
Trường hợp Công ty Công ty chỉ trả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công cho thời gian trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty thực hiện khẩu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiền từng phân.
Trường hợp Công ty chi trả các khoản lợi ích và các khoản thanh toán khác có tính chất tiền lương, tiền công cho người lao động (ký hợp đồng lao động với Công ty từ 03 tháng trở lên) sau khi đã châm dứt hợp đồng lao động, nều khoản chỉ này từ hai triệu (2.000.000) đồng trở lên thì Công ty khẩu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập trước khi trả cho người lao động (trừ các khoản thu nhập được trừ khi tính thuế TNCN, thu nhập được miễn thuế TNCN)
Như vậy, không phải cứ người lao động chấm dứt hợp đồng từ ngày 01/7/2026 thì tiền lương tháng 6 đều bị khấu trừ thuế TNCN 10%.
Trường hợp doanh nghiệp chỉ thanh toán tiền lương, tiền công của thời gian người lao động còn làm việc trước khi chấm dứt hợp đồng thì vẫn thực hiện khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Đối với các khoản thu nhập được chi trả sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và có mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì doanh nghiệp phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi chi trả.
Nếu bạn cần thêm thông tin chi tiết hoặc dịch vụ tư vấn thuế, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chuyên sâu.
Website: https://kmc.vn/
Hotline: +84 81 489 4789 hoặc +84 91 988 9331
Email: info@kmc.vn